Chùa Phật Ân 475 Minnesota Avenue Roseville, MN 55113. Tel: (651) 482-7990 - Web: www.PhatAn.org. Email: chua_phatan@yahoo.com.
THƯ MỤC TÁC GIẢ
(Xem: 273)
Kính gởi Chư Tôn Đức và quí Phật tử những hình ảnh An Cư Kiết Hạ tại chùa Phật Ân 2018
(Xem: 241)
Kính gở Chư Tôn Đức và qúi đồng hương Phật Tử những hình ảnh của hội chợ hè An Lạc 2018
(Xem: 422)
Kính gởi đến Chư Tôn Đức và quí đồng hương Phật tử những hình ảnh Phật Đản - 2018 tại chùa Phật Ân Minnesota

phần 4

12 Tháng Giêng 20171:58 CH(Xem: 264)
phần 4

KINH NGHIỆM NIỆM PHẬT 
VÀ NHỮNG CHUYỆN LUÂN HỒI
 

Biên Soạn: Cư Sĩ Diệu Âm
Chứng Minh: H.T. THÍCH GIÁC HẠNH

 ---o0o----

4

Ba Kiếp Trong Một Đời

 

Tôi xin kể cho quý bạn nghe câu chuyện luân hồi của đứa con gái lớn tôi. Nó đã trải qua ba kiếp trong một đời. Nghe qua quý bạn sẽ không tin, cho đây là chuyện hoang đường không có thật. Xin thưa quý bạn câu chuyện kể sau đây hoàn toàn là một trăm phần trăm chân thật. Tôi không vì bịa đặt mà đem danh dự bản thân và con gái tôi ra cho quý bạn cười. Hơn nữa, nếu tôi nói xạo, người mang tội sẽ là tôi. Thử hỏi, kể một câu chuyện hoàn toàn không có lợi, chỉ có hại cho bản thân, có ai chịu làm chuyện dư thừa này không? Chắc chắn là không!

Câu chuyện này nó quá chân thật, ngay đến bản thân của tôi cũng không dám tin, nhưng sự thật vẫn là sự thật. Tôi đã dấu con gái tôi gần 20 năm. Mới đây vì muốn viết cuốn sách này, tôi đã kể cho con gái tôi nghe. Nó bị chới với, không thể chấp nhận đó là sự thật. Khi nghe tôi đem câu chuyện này kể ra ngoài, nó hoàn toàn phản đối. Sau khi khuyên giải thiệt hơn, cuối cùng con tôi đã bằng lòng nhưng nó có một yêu cầu xin được dấu tên.

Mục đích của câu chuyện luân hồi này là để chúng ta tin: Lời Phật dạy là vạn lần chân thật, không phải là chuyện dị đoan. Chẳng qua chúng ta tự lừa dối bản thân, không dám nhìn vào sự thật, cũng như chúng ta chỉ thích nghe những lời suông tai nịnh bợ giả dối. Hễ ai nói lời thật, thì làm chúng ta nổi sân rồi chửi mắng người ta ngay. Trên thế gian này, có được bao nhiêu người chấp nhận được lời thật? Vì lời thật nghe chói tai đau lòng, nhưng đây mới là lời vàng bạc. Còn lời giả dối, nghe suông tai thích thú, nhưng là lời độc hại ngấm ngầm. Cũng như chúng ta, cho giả là chơn, cho chơn là giả nên người đời mới có cái tên gọi là thế gian.

Làm người đã khổ lắm rồi. Suốt ngày chúng ta còn sống đau khổ, vui buồn vì lời lẽ của kẻ khác, như vậy có khác gì mình đã đánh mất bản thân và là kẻ thù lớn nhất của chính mình. Điều này thử hỏi có đáng thương không? Chuyện mình xấu hay tốt, lương tâm mình tự hiểu rõ, cần gì đến người khác nói mình mới biết. Kẻ có trí tuệ rất sợ lời giả dối; kẻ ngu si chỉ thích nghe lời giả dối hại người.

Xin lỗi quý bạn, tôi hơi dài lòng, giờ tôi xin trở lại câu chuyện. Ở đây, tôi xin kể cho quý bạn nghe rõ từng câu chuyện một để quý bạn dễ hiểu .

1.  Người bị chết

2.  Người chết thành rắn

3.  Rắn chết thành ngưòi

 

Người Bị Chết

 

Lúc tôi khoảng mười tuổi, mẹ tôi mang thai, bầu thai này nằm ngoài tử cung. Vì vậy, từ khi cấn thai, mẹ tôi hay bị đau bụng. Mẹ tôi đi đủ mọi nơi, đủ bác sĩ khác nhau, ai cũng nói là mẹ tôi không có mang thai. Tất cả bác sĩ đều nói: “Mẹ tôi có cục máu bầm ở ngoài tử cung, cần phải chích thuốc trục ra ngay nếu không sẽ bị hại đến tánh mạng”. Mẹ tôi không chịu, nên cự hết bác sĩ này tới bác sĩ kia, Mẹ tôi nói: “Các ông nói bậy, nó là con của tôi, không phải là cục máu bầm”. Sau đó, mẹ tôi không thèm đi tìm bác sĩ nữa, vì mỗi lần đi là mỗi lần thêm giận.

Từ đó, mẹ tôi ở nhà chờ đợi cho bầu thai phát triển. Rồi ngày qua ngày, mẹ tôi càng đau thêm, máu càng lúc càng ra nhiều, cái bụng càng ngày càng lớn. Mẹ tôi đau khổ tận cùng. Chịu đựng đến hơn bốn tháng, nỗi đau làm mẹ tôi càng lúc càng hao gầy, ăn ngủ không yên, xỉu lên xỉu xuống.

Cuối cùng, mẹ tôi bị bất tỉnh. Ba tôi đưa mẹ tôi vào nhà thương để cấp cứu. Bác sĩ nói phải chích thuốc trục cục máu bầm này ra, nếu không mẹ tôi sẽ bị chết. Cuối cùng, ba tôi bằng lòng. Sau khi bác sĩ chích thuốc dục và làm cho mẹ tôi tỉnh lại. Bác sĩ kêu ba tôi đưa mẹ tôi về nhà nghỉ ngơi và dặn dò ba tôi là: sau vài tiếng đồng hồ, mẹ tôi sẽ trục ra cục máu bầm, rồi đem đi bỏ và lo tẩm bổ lại cho mẹ tôi là mọi chuyện sẽ không sao.

Ba tôi sau khi nghe lời dặn dò của bác sĩ thì yên tâm chở mẹ tôi về. Về nhà, mẹ tôi nằm băng và trục ra cục máu bầm. Lúc đó, ba tôi tưởng là cục máu bầm nên sai chị tôi đem bỏ vào thùng rác. Khiến xui, chị tôi không bỏ vào thùng rác lại đem bỏ lên nóc cầu tiêu sau nhà. Lúc đó trong nhà tôi, chỉ có ba mẹ tôi và chị Hai, còn tất cả anh chị em của tôi đều đi học chưa về.

Sau khi ba và chị Hai lo cho mẹ tôi xong, ba tôi yên lòng, tính đi coi công chuyện làm ăn. Đi khoảng nữa đường, trong lòng ba tôi nóng nảy ray rứt khó chịu như có điều chi không ổn, ba tôi suy nghĩ không biết là chuyện gì? Tự nhiên ba tôi sực nhớ lời mẹ tôi nói: “Nó không phải là cục máu bầm mà nó là con của tôi, mấy người đừng giết nó!” Ba tôi hốt hoảng, chạy trở về nhà, vừa chạy ba tôi vừa suy nghĩ: “Nếu bịch máu bầm đó là con của mình thì ba tôi sẽ ân hận”. Điều làm cho ba tôi sợ phát điên lên, là khi nghĩ đến lỡ con chó hoặc con mèo ở trong nhà, tụi nó bươi thùng rác rồi ăn luôn đứa bé đó thì ba tôi sẽ hối hận suốt đời.

Về tới nhà, ba tôi đã réo từ ngoài cửa réo vào. Ba tôi gọi: “Con Hụê đâu? Mày bỏ cái bịch đó ở đâu?” Chị Hai tôi hốt hoảng chạy ra, ba tôi vừa hỏi vừa níu kéo chị tôi. Chị tôi bẩm tánh hiền và khờ, thấy ba tôi hốt hoảng hạch hỏi, chị ú ớ không nhớ là đã bỏ bịch máu đó ở đâu? Ba tôi chạy ra sau nhà, lục mấy thùng rác đều không thấy. Càng tìm, ba tôi càng chết điếng cả người.

Cuối cùng, chị Hai tôi nhớ ra, chị nói chị bỏ lên nóc cầu tiêu. Ba tôi mừng quá chạy lên coi thì may thay vẫn còn. Chỉ có điều là hơi bị khô ngoài mặt vì trời nóng, lại bỏ trên mái tôn. Khi ba tôi đem cục máu này xuống, thì ba tôi biết ngay là bên trong có đứa bé. Ba tôi đem vào, lập bàn thờ ở giữa nhà.

Trong thời gian mẹ tôi xảy ra chuyện, cũng là thời gian tôi bị nóng lạnh, nôn mửa, khó chịu. Tôi xin cô giáo cho tôi về nhà. Cô giáo cho hai người bạn đưa tôi về. Về đến nhà tự nhiên tôi khỏe hẳn như không có chuyện gì xảy ra. Sau khi chia tay và cám ơn hai người bạn, tôi vội chạy vào nhà. Vừa chạy đến cửa, tôi hốt hoảng khi thấy giữa nhà có bàn thờ nhang đèn; ba và chị tôi đang khóc, nhìn quanh không thấy mẹ tôi. Tôi tưởng mẹ tôi đã chết. Tôi chạy xông vào phòng mẹ tôi. Vừa vào tới giường, tôi thấy mẹ tôi nằm im, dưới gầm giường thì có nhiều lửa than, còn trên thì có cả chục cái mền đắp trên người của mẹ tôi. Tôi chạy lại, tay sờ trán, tay dò hơi thở. Thấy mẹ tôi còn sống, tôi mừng tới rơi nước mắt.

Tôi vội chạy ra ngoài để xem tại sao ba và chị tôi khóc, không lẽ mẹ tôi không sống được bao lâu? Nghĩ đến đây tôi lo sợ. Tôi chạy lại hỏi chị tôi: “Tại sao chị lại khóc?” Chị tôi không trả lời. Tôi hỏi ba, ba tôi cũng không trả lời, hai người chỉ khóc, vừa khóc vừa làm công chuyện.

Tôi tìm hiểu và thắc mắc, tại sao ba tôi lại cúng cục thịt bầm kỳ cục này? Phải nói là bọc thịt thì đúng hơn, vì nó hình bầu dục, bề dài khoảng một gang rưỡi tay của người lớn, bề ngang bằng bàn tay xòe ra. Tôi tò mò muốn biết nên chạy lại hỏi chị tôi: “Chị Hai, tại sao ba cúng cục thịt bầm kỳ cục này làm gì vậy? Tại sao ba và chị lại khóc?” Chị tôi giận, quay qua kêu tôi câm miệng, chị tôi nói: “Cái gì mà cục thịt, nó là em của mình đó”. Tôi nghe xong, chới với hết hồn. Tôi tưởng tôi nghe lộn, nên hỏi lại: “Chị nói cái gì? Cái đó là em của mình hả?” Chị tôi nói ừ. Tôi bật khóc vì tôi không thể nào tưởng tượng được bọc máu bầm đó là em của tôi.

Cây nhang bắt đầu tàn rụi. Ba tôi kêu chị Hai và tôi tới, để ba tôi xé bọc máu bầm đó ra, để coi mặt em của tôi. Trong giây phút này, chúng tôi rất hồi hộp và xúc động. Ba tôi run run khi xé bọc máu này ra. Vừa xé ra, cả nhà tôi khóc òa lên. Thì ra là một em bé gái bị chết bầm tím, nó đã có đủ hình hài. Tay chân thon dài, hai tay ôm cái nhau, nối dài từ háng lên tới miệng như một đứa bé đang cầm bình sữa bú. Đứa bé nằm ngửa thẳng, mắt nhắm, nhìn từng nét, ngón tay, ngón chân đều thon dài nhỏ xíu. Trước cảnh tượng đau lòng này, thật suốt đời tôi không quên.

Ba tôi vừa khóc vừa nói: “Ba xin lỗi con, ba không biết bọc máu này là con, xém một chút là ba đã làm chuyện tội lỗi mà chính ba cũng không thể tha thứ cho ba. Bây giờ, ba đặt tên cho con là Đồng Thị Đỏ vì con chết trong lúc còn đỏ hỏn”. Cũng trong thời gian này, tất cả anh chị em của tôi cũng đều đi học về, ai nấy cũng đều thương khóc. Còn mẹ tôi vẫn còn bất tỉnh mê man không hay biết gì. Nếu mẹ tôi thấy cảnh này, chắc mẹ tôi sẽ không sống nổi.

Ba tôi dặn dò tất cả chị em chúng tôi là, không được đem câu chuyện ngày hôm nay nói ra ngoài, vì sợ hàng xóm nói xàm rồi đồn bậy. Ba tôi nói: “Nếu như trong nhà có ai đem chuyện này nói ra ngoài, ba tôi sẽ giết chết không tha”. Chúng tôi xưa nay rất sợ ba tôi, sợ tới mức độ: ba tôi ở đâu, chị em chúng tôi không dám đến gần, nên từ nhỏ chúng tôi đã có khoảng cách với ba tôi. Lời ba tôi dặn hôm nay, dĩ nhiên dù có chết chúng tôi cũng không dám nói ra.

Dặn dò xong, ba tôi lấy ván đóng một cái hòm nhỏ, sơn màu đỏ rồi bỏ em tôi vào. Chờ tới nửa đêm, ba tôi và tất cả gia đình đưa đám em tôi qua một miếng đất hoang ở trước cửa nhà để chôn. Nhà tôi tuy ở cạnh bãi biển, nhưng trước khi xuống biển, phải đi qua một bãi đất hoang có diện tích cũng hơi lớn. Miếng đất này không có chủ đã bỏ hoang nhiều năm.

Ba tôi muốn chôn em tôi gần nhà, nhưng lại sợ người ta biết ngôi mộ đứa bé đó là của gia đình tôi. Vì vậy, gia đình tôi đợi đến nửa đêm, mới len lén đem em tôi đi chôn. Đêm đó là một đêm buồn tĩnh mịch, hoang vu, lạnh buốt. Ba tôi đi đầu, ôm một chiếc hòm nhỏ. Chúng tôi theo sau, anh tôi cầm cuốc. Đưa đám em tôi mà giống như cả nhà tôi đang đi ăn trộm. Ba tôi không cho cầm đèn, chỉ dùng một cái đèn pin soi đường.

Đêm đó ánh trăng tờ mờ, lẫn lộn với tiếng sóng vỗ rì rào của biển, tiếng côn trùng kêu inh ỏi thảm thương, như khóc thương cho một vong hồn bạc mệnh. Em tôi thật là tội nghiệp, tới đưa đám chôn cất cũng không được nghi lễ bình thường. Em tôi chắc sẽ đau lòng và hận khi thấy chúng tôi hành động như vậy. Tôi thật là đau lòng, không hiểu tại sao ba tôi lại sợ hàng xóm biết?

Từ đó, gia đình tôi không còn ai dám tới gần ngôi mộ đó. Mộ em tôi không có nhang, thậm chí cỏ mọc đầy, không người dọn dẹp. Chị em chúng tôi, hầu như mỗi ngày đều chạy xuống bãi biển chơi. Đi ngang qua mộ em tôi mà chúng tôi không dám đến gần, vì sợ đến gần thì người ta sẽ biết, mà nếu để người ta biết thì sẽ bị ba tôi đánh chết.

Rồi thời gian cứ lặng lẽ trôi qua, không ai biết ngôi mộ  đó là của gia đình tôi. Một hôm, có một bà lão dọn tới xóm nhà tôi. Bà ta nghèo nên đã qua khai hoang một khoảng đất trống để  trồng khoai lang, khoai mì. Khi làm cỏ, bà ta phát hiện ra một ngôi mộ nhỏ. Bà ta dọn dẹp sạch sẽ, rồi thắp nhang cho em tôi. Bà ta vái kêu nó phù hộ cho bà, đừng cho mấy đứa nhỏ phá khoai lang, khoai mì của bà.

Dọn dẹp xong bà trở về nhà. Đến đêm, bà nằm mơ thấy có một chiếc hòm nhỏ từ xa bay lại, rồi đứng ngay trước mặt của bà. Tiếng nói con nít trong hòm vọng ra: “Con cám ơn bà đã dọn dẹp cho con, bây giờ con mát mẻ và thoải mái lắm”. Sau đó, chiếc hòm xoay đầu lại rồi từ từ bỏ đi mất dạng.

Ngày hôm sau, bà lão đem chuyện này đồn ra khắp xóm, bà ta muốn tìm hiểu ngôi mộ đứa bé đó là của nhà ai? Tiếng đồn càng lúc càng xa. Bà con đổ xô tới coi mộ em tôi. Cũng từ đó, mộ em tôi lúc nào cũng được sạch sẽ. Nói là ngôi mộ, thật ra không giống ngôi mộ vì không có xây gì hết. Chỉ có một đống đất cao lên, mặc cho mưa gió thời gian phủ lấp thật là đáng thương. Sau khi mất con, mẹ tôi mỗi ngày đều cúng cơm cho em tôi, cuộc sống của mẹ tôi lúc nào cũng đầy nước mắt.

 

Người Chết Thành Rắn

 

Bà lão cực khổ đã mấy tháng, tới lúc khoai mì, khoai lang có củ. Trong xóm tôi, có thằng Du Ca, con của cô Hồng xóm trên, nó có tiếng là phá làng xóm. Biết khoai lang, khoai mì của bà lão có củ, nó dẫn một đám phá phách trong xóm, cùng đi theo để đào khoai của bà. Mỗi lần chúng đến phá, đều có một con rắn đốm trắng đen rượt chúng nó chạy. Lâu ngày, chúng đâm ra thù ghét con rắn, chúng rủ nhau đi giết rắn. Tiếng đồn truyền đi khắp xóm. Bà lão trong lòng nghĩ đứa bé trong mộ phù hộ cho bà, nhưng bà không nói cho ai nghe.

Một hôm, đám thằng Du Ca, chúng bày mưu mang theo vũ khí để giết con rắn. Chúng cũng làm bộ đến đào khoai để dụ con rắn ra ngoài. Cũng như mọi lần, con rắn bò ra rượt chúng. Nhưng kỳ này, đám Du Ca có đông ngườni và vũ khí trong tay, nên chúng bao vây đánh đập con rắn. Rắn sợ bỏ chạy, chúng rượt theo. Khi con rắn chạy đến mộ em tôi thì biến mất. Tụi nó nghĩ là chuyện ngẫu nhiên, nhưng lần nào con rắn cũng bị rượt tới mộ thì biến mất. Từ đó, chúng đi đồn khắp xóm: Nói đứa bé là con rắn.

Ba mẹ tôi nghe tới tai, dĩ nhiên là gia đình tôi không ai tin. Ba tôi sợ chị em tôi đi gây chuyện, thì hàng xóm sẽ biết ngôi mộ em bé đó là của gia đình tôi. Tôi nghe xong trong lòng tức giận, nên đi kiếm thằng Du Ca hỏi cho ra chuyện

Tôi gặp nó ở đầu ngõ. Tôi hỏi: “Tại sao mày hay đi phá làng phá xóm quá vậy? Mộ người ta đâu mắc mớ gì tới mày, mà mày đồn cái mộ đó là con rắn?” Thằng Du Ca nó ngạc nhiên, vì xưa nay tôi chưa bao giờ gây đến hắn. Nó nói: “Tao không có nói bậy, đó là sự thật, mày không tin thì đi hỏi mấy đứa trong xóm này đi?”

Tôi giận quá nên nói: “Mày cầm đầu tụi nó, mày nói cái gì mà tụi nó không theo, tao không cần biết thật hay là giả, mà tao muốn mày câm cái miệng của mày lại. Nếu không, tao kêu anh tao đánh mày cho xem”. Thằng Du Ca tức nhưng lại không dám đánh tôi, vì anh tôi cũng là dân phá trong xóm nên nó sợ. Nói xong tôi đi về, trong lòng cảm thấy đã tức phần nào.

Tôi tưởng hăm nó là nó sợ. Ai ngờ nó không sợ, vẫn cứ kéo một đám bao chung quanh mộ em của tôi để canh con rắn bò ra. Tôi nhịn không được nữa, nên kêu anh tôi đánh nó, anh tôi không chịu. Tôi đi kiếm hắn, rốt cuộc tôi và nó đánh lộn tơi bời. Vừa đánh, nó vừa nói: “Cái mộ đó là cái gì của mày, tại sao mỗi lần tao nói động tới cái mộ, là mày chửi tao? Bây giờ mày còn đi đánh tao, bộ nó là em mày sao mà mày hung dữ quá vậy?”

Lúc đó, tôi bị đánh đau, phần giận ghét ba tôi lâu ngày, nên tôi vừa khóc, vừa hét, tôi nói: “Đúng! Nó là em của tao, không ai được đụng tới nó, nếu không, tao sẽ không tha cho đâu”. Nghe tôi hét xong, nó hết hồn ngưng lại. Tôi nhìn quanh, thấy cả đám đang đứng nhìn tôi, ai nấy cũng đều ngạc nhiên, thì ra cái mộ em bé đó là của gia đình tôi.

Tiếng đồn thật dễ sợ, mới đó, ba tôi đã sai người kêu tôi về. Trên đường về nhà, tôi run sợ, sợ ba tôi giết tôi chết. Lo sợ một hồi, tôi tự nói: “Bất quá thì chết có sao đâu, mình không có sai!” Thế là tôi đi vào nhà, ba tôi giận như muốn giết chết tôi. Ba tôi vừa đánh vừa la. Tôi giận quá nên hét, tôi nói: “Tại sao ba sợ người ta biết? Mà ba không sợ em bé nó ghét ba và con cũng ghét ba?”

Ba tôi khựng lại, tiếng hét của tôi đã làm cho ba tôi thức tỉnh. Ba tôi ngồi bệt xuống ghế, rồi kêu tôi đi ra ngoài. Mẹ tôi mừng, đem tôi vào nhà trong xoa đầu. Xưa nay ba tôi đánh ai, mẹ tôi không dám đến gần, chỉ biết đứng một bên để khóc. Nếu mẹ tôi can hay là lên tiếng, thì mẹ tôi cũng bị ba tôi đánh. Chuyện nhà chưa xong, hàng xóm ùn ùn đến hỏi thăm đủ chuyện. Cuối cùng, ba mẹ tôi thú thật. Từ đó, đám Du Ca không dám đến phá mộ em tôi nữa. Tiếng đồn gia đình tôi có đứa con rắn không bao lâu đã đồn khắp xóm.

Sau khi mọi chuyện êm xuôi, tôi tìm thằng Du Ca hỏi rõ từng giai đoạn một. Tánh tôi hay thích tìm hiểu nên khi tôi nghi vấn điều gì, tôi phải tìm cho ra sự thật. Nó nói những lời nó vừa kể là sự thật. Tôi cũng không tin em tôi là rắn.

Một hôm, tôi và chị sinh đôi với tôi đi xuống biển bắt ốc chơi. Trên đường về, chúng tôi đi ngang qua mộ. Tôi nói chị tôi: “Mình ghé qua thăm mộ em mình nghe”. Vừa đi, tôi vừa kể chuyện thằng Du Ca nói về em của tôi cho chị tôi nghe. Tới mộ, tôi và chị tôi tìm chung quanh mộ, coi thử có hang rắn nào không? nếu như có hang rắn thì em tôi đâu phải là rắn, mà tại vì con rắn nó làm hang ở trên mộ em tôi.

Tôi cứ tự phân bua như vậy mãi, nhưng tìm hoài cũng không thấy một lỗ hang nào cả. Tôi và chị tôi bỏ ra về. Vừa đi được vài chục bước, tôi thấy cây keo trước mặt có nhiều trái chín. Tôi reo lên: “Tuyết ơi! Cây keo bửa nay có nhiều trái chín quá”: Thế là hai chị em tôi bỏ bao ốc xuống, chạy tới đành nhau hái keo.

Đột nhiên, chân trái của tôi có con gì bò quanh quấn chân tôi lại. Tôi biết là bị rắn quấn, nhưng vì quá sợ hãi nên không dám nghĩ là thật mà nghĩ chị tôi muốn hù tôi. Chị tôi cũng bị giống như tôi, nhưng chị bị quấn chân phải. Tôi quay qua la chị: “Mày đừng chơi tao nghe” (từ nhỏ tôi không chịu gọi chị sinh đôi của tôi bằng chị). Chị tôi cũng la ngược lại tôi, chị nói: “Mày đừng chơi tao nghe”.

Thế là, hai chị em tôi biết rõ đã bị rắn quấn. Hai chị em tôi nhìn xuống thấy con rắn dài dốm trắng đen, nó quấn chặt hai chân của hai chị em tôi lại với nhau. Chúng tôi chết điếng nên hét thất thanh không ngừng, khiến hàng xóm chạy tới. Họ hỏi, chuyện gì vậy? Chúng tôi vừa khóc vừa hét: “Rắn! Rắn!” Họ nhìn xuống rồi nói: đâu có con rắn nào đâu. Khi tôi nhìn xuống không thấy rắn, mà thấy mắt cá chân của tôi có đầy bọt xanh nọc độc của rắn. Tôi sợ quá vừa nhảy vừa la.

Lúc đó, có một chú hàng xóm, nghĩ là tôi đã bị rắn cắn nên xé vội tay áo cột chặt vào đùi của tôi, rồi cõng tôi đi tìm bác sĩ. Ba mẹ tôi sau đó hay tin cũng chạy đến. Khi chú đó cõng tôi đến, từ ngoài bà con la um sùm: “Bác sĩ ơi! Cứu người! Có người bị rắn cắn”: Bác sĩ vội chạy ra lấy khăn lau hết chất bọt xanh trên chân của tôi. Lau xong, bác sĩ tìm hoài không thấy có dấu cắn. Ai nấy cũng đều ngạc nhiên, họ nói tôi chưa tới số chết. Họ hỏi tôi con rắn đó màu gì? Tôi nói thật, là con rắn đốm trắng đen.

Sau chuyện này, cả xóm họ đồn em tôi là con rắn đó là sự thật, không còn là chuyện đồn bậy nửa, gia đình tôi bắt đầu mới tin. Thì ra, con rắn đó nó quấn chân hai chị em tôi lại với nhau là để mừng rỡ chớ không có ý hại.

Một hôm có một bà bác, mẹ của bác Tâm bên cạnh nhà, từ Sài Gòn vào thăm con. Bà bác đó ở chơi được mấy ngày thì nghe gia đình kể về chuyện đứa con rắn của gia đình tôi. Bà bác đó qua tìm mẹ tôi để nói chuyện. Sau khi nghe mẹ tôi thuật lại câu chuyện, bà bác đó trách ba mẹ tôi làm không đúng.

Bà bác nói: “Đứa bé là một thai nhi. Khi nó mất, chỉ cần chôn cất đàng hoàng chớ không được than khóc, hay cúng cơm kêu gọi tên nó mỗi ngày. Như vậy làm sao nó được siêu thoát?” Bà nói tiếp: “Không được lập bàn thờ cho nó” (vì từ ngày em tôi mất, mẹ tôi lập bàn thờ, cúng cơm và kêu tên nó mỗi ngày) Bà bác đó yêu cầu mẹ tôi dẹp bàn thờ, không cúng cơm hoặc làm giỗ, không thương khóc, không kêu tên nó về nhà ăn cơm. Phải quên nó, chỉ khuyên nó đi đầu thai. Nếu mẹ tôi không làm theo lời bà nói, thì em tôi sẽ thành tinh về nhà bắt từng đứa đi.

Sau khi nghe bà bác khuyên, mẹ tôi sợ, dẹp bõ bàn thờ, không cúng cơm, không làm gì hết. Sau đó, mẹ tôi khuyên cả nhà không được thương nhớ mà phải quên. Rồi thời gian trôi qua, chiến tranh kéo đến, năm 1975, gia đình tôi di tản vào Sài Gòn. Từ đó, trong nhà tôi không còn ai nhắc đến em tôi nữa.

 

Rắn Thành Người

 

Năm năm sau, tôi lấy chồng vượt biên qua Mỹ. Vừa tới Mỹ tháng trước, tháng sau tôi cấn thai. Trước mấy tuần có thai, tôi nằm mơ, mỗi đêm cùng một câu chuyện và câu chuyện này làm tôi sợ hãi, không có giấc ngủ yên, vì mỗi khi tôi nhắm mắt thì giấc mơ đó lại hiện ra. Giấc mơ kỳ lạ, tuy nói là giấc mơ nhưng y như thật.

Một hôm tôi nằm mơ, trong giấc mơ, có một đứa bé gái chạy gọi tôi bằng mẹ, đứa bé này khoảng một tuổi. Trong giấc mơ, tôi biết rõ là tôi chưa có thai thì làm sao có con. Tôi nói với đứa bé đó: “Mày không phải là con của tao, tao chưa có bầu thì làm sao có con”. (Bình thường, tôi thấy con nít tôi thương, nhưng không hiểu sao gặp đứa bé này, tôi có cảm giác sợ nên tôi làm dữ để đuổi nó đi). Tôi càng đuổi, nó càng chạy theo, nó cứ níu áo tôi gọi tôi bằng mẹ, nó cứ nói: “Mẹ ơi đừng bỏ con”.

Tôi sợ quá, hất nó qua một bên rồi cắm đầu cắm cổ bỏ chạy. Chạy về tới nhà tưởng đã được thoát nợ, ai ngờ nó đứng ngay trước mặt. Tôi sợ quá bỏ chạy ra ngoài, tôi chạy tứ tung, nhưng dù tôi chạy đi đâu cũng bị nó chặn ngay trước mặt. Tôi hốt hoảng la um sùm.

Chồng tôi đánh thức tôi dậy, hỏi: “Thấy cái gì mà em la dữ vậy?” Tôi thức dậy, mồ hôi ướt đẫm, tôi nói: “Có một con bé, nó chạy theo em, giống như là đòi nợ, nó cứ gọi em là mẹ, em đuổi nó đi, nó không chịu đi mà còn níu áo gọi em bằng mẹ,nó nói là đừng bỏ nó”. Chồng tôi nói: “Nằm mơ thôi không có thật, đừng lo quá, thôi ngủ đi”. Tôi nói: “Không phải nằm mơ, vì nó như thật”. Chồng tôi lúc đó, nghĩ là tôi nói xàm. Tôi cũng mong là giấc mơ không có thật. Cả đêm tôi không dám ngủ vì sợ lại gặp nó.

Liên tục mấy đêm, tôi đều nằm mơ một cốt chuyện, chỉ khác hoàn cảnh mà thôi. Có một đêm, tôi nằm mơ trong tâm thức của tôi rất giận đứa bé này, nó đã làm cho tôi khổ sở. Tôi giận quá nên hù đòi đánh nó chết nếu nó cứ chạy theo.

Nó không sợ còn níu tay tôi, nó nói: “Mẹ ơi! Đừng bỏ con, bộ mẹ quên con rồi sao? Con là Đồng Thị Đỏ đây!” Lúc đó, tôi không nghĩ ra Đồng Thị Đỏ là ai. Sau đó, tôi nhớ ra thì chính là đứa em bị chết của tôi, rồi tôi nhớ lời bà bác năm xưa nói: “Nó thành tinh, về bắt từng người”. Vả lại, nó đã thành rắn rồi, tại sao bây giờ lại thành người tới gọi tôi bằng mẹ? Tôi hốt hoảng hất nó té xuống, rồi tôi vừa chạy vừa la, tôi nói: “Ma quỷ! Ma quỷ!”

Chồng tôi đánh thức tôi dậy, kỳ này mồ hôi ướt đẫm cả người. Tôi vừa sợ vừa khóc, tôi cứ lẩm bẩm: “Ma quỷ! Ma quỷ!” Chồng tôi hết hồn, không biết chuyện gì mà mỗi ngày càng thêm hốt hoảng, chồng tôi hỏi: “Chuyện gì? Chuyện gì? Tôi nói: “Nó là ma quỷ đến đây đòi nợ”. Chồng tôi hỏi: “Ai? Ai tới đây đòi nợ?” Tôi nói: “Là cái con bé mà mỗi đêm em gặp đó”. Tôi nói tiếp: “Anh còn nhớ hồi em mới quen anh ở Việt Nam, em có kể cho anh nghe về đứa em bị chết của em, nó tên là Đồng Thị Đỏ không?” Ảnh nói nhớ, rồi hỏi: “Có gì không?” Tôi nói: “Bây giờ, đứa bé mà mỗi đêm em thấy, nó nói nó là Đồng Thị Đỏ”. Chồng tôi nói: “Chắc em tưởng tượng thôi, làm gì có chuyện đó”. Tôi nói: “Không có tưởng tượng vì chuyện đã qua lâu rồi, nhớ còn không nhớ được thì làm gì có chuyện tưởng tượng. Mà dù có tưởng tượng thì chỉ mơ có một lần, đâu có lý nào hễ nhắm mắt là gặp nó”:

Sau ngày đó, tôi rất sợ ngủ, nhưng rồi đôi lúc mệt quá cũng phải ngủ. Tinh thần tôi bị khủng hoảng. Anh Chị Hai ở trong nhà cũng nghĩ là tôi tưởng tượng (lúc đó tôi đang làm công, ở đợ cho gia đình anh chị Hai)

Rồi ngày qua ngày, một hôm, tôi không còn nằm mơ thấy nó nữa. Tôi hết hồn sờ bụng của tôi, tôi nói: “Vậy là nó đã vào trong bụng tôi rồi”. Tôi dùng tay đánh bụng tôi. Tôi nói: “Con nhỏ kia, đi ra khỏi bụng tao”. Tôi gọi chồng tôi và nói: “Nó chui vào bụng em rồi”.

Chồng tôi tưởng tôi bị khùng. Tôi nói: “Chở em đi khám bác sĩ đi, em đã có thai rồi”. Chồng tôi không chịu, cho là tôi nói bậy. Tới kỳ tôi không có, chồng tôi chở tôi đi bác sĩ. Bác sĩ nói tôi đã có thai. Tôi nói với bác sĩ là tôi không muốn đứa bé này. Bác sĩ ngạc nhiên, chồng tôi nói không có gì đâu, vợ tôi đang bị khủng hoảng.

Sau đó, tôi nghĩ chắc có lẽ tôi mắc nợ nó kiếp trước, nên kiếp này nó đến đòi nợ, thế là tôi phải chấp nhận. Con tôi nó biết tôi không thích nó, nên nó hành hạ tôi thê thảm, ăn bao nhiêu cũng ói ra. Lúc đó, tinh thần tôi khủng hoảng. Cấn thai bị hành, phần mỗi ngày phải dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn, coi bốn đứa nhỏ, cơm nước tắm rửa; phải làm những món thức ăn cho anh chi Hai đi bán xe lunch (nghĩa là xe bán thức ăn trưa cho các hãng xưởng). Hằng ngày, tôi phải làm nhiều chả giò, chặt ướp thịt gà, xắt thịt bò, gọt và xắt khoai tây.

Sức khỏe tôi bình thường đã không được tốt, giờ còn phải gánh chịu bao nhiêu là cực nhọc, còn chồng tôi không giúp được gì, suốt ngày chỉ biết cờ bạc rượu chè. Thậm chí lấy luôn tiền ở đợ của tôi đi đánh bài hết, đến đỗi không có chiếc xe để chở mẹ con tôi. Trong lúc chịu đủ điều khổ sở, phần nghe tin mẹ tôi mất, tinh thần tôi hoàn toàn sụp đổ.

Con tôi nó giận ghét tôi nên nó đạp không ngừng, hành tôi cho đến ngày sanh. Khi sanh nó ra lại bị sanh khó, tôi đau tới gần 25 tiếng đồng hồ. Bác sĩ sợ tôi không còn sức nên chích thuốc dục. Đến khi sanh nó ra, nó có nhau choàng ba vòng. Bác sĩ nói: “Bây giờ tôi mới hiểu tại sao cô bị đau như vậy. Con so mà gặp đứa bé nhau choàng ba vòng, mà sanh được tự nhiên là may mắn lắm, xém một chút là phải mổ vì sợi nhau xiết chặt cổ của đứa bé”.

Vừa đỡ đẻ, ông ta vừa nó: “Cái con bé này nó lanh quá, mới sanh ra đã mở mắt nhìn tôi, nó nhìn cả mấy cô y tá. Tôi đỡ đẻ nhiều năm, chưa thấy đứa bé nào lanh như vậy”. Ông nói tiếp: “Sao đứa bé này không chịu khóc?” Ông ta đưa lên đánh vào đít nó, sau đó nó mới chịu khóc. Càng nghe ông ta nói, tôi càng thêm sợ. Sau khi tắm rửa đứa bé xong, cô y tá đưa cho tôi. Tôi nhìn nó, nó nhìn lại tôi, tôi sợ nên nhìn qua chỗ khác. Lúc đó tôi nghĩ: đứa bé này không biết nó sẽ đòi nợ tôi bằng cách nào?

Rời nhà thương về nhà được mấy ngày thì sức khỏe tôi đã kiệt, nên tôi bị ngất xỉu. Anh Hai và chồng tôi chở tôi vào nhà thương để cấp cứu. Lúc đó, anh chị Hai và chồng tôi tưởng tôi sẽ bị chết. Sau khi được cấp cứu và dưỡng bệnh, chúng tôi trở về nhà. Tôi xin anh chị Hai nghỉ việc vì tôi phải lo cho con tôi.

Thế là chúng tôi dọn đi chỗ khác. Từ lúc sanh con tôi ra, tôi sợ cho nó bú và thay tã. Tôi năn nỉ chồng tôi ráng lo cho con tôi, đợi đến khi nào tôi hết sợ nó thì sẽ lo sau. Nhưng chồng tôi là một người đàn ông vô trách nhiệm, nên lời cầu khẩn của tôi như gió thoảng qua tai, suốt ngày chỉ biết cờ bạc, rượu chè, đi từ sáng đến tối mới về. Rốt cuộc, tôi phải lo cho con tôi, càng lo cho nó tôi càng sợ, càng bị khủng hoảng.

Mỗi lần nghe tiếng con tôi khóc là tôi sợ run lên. Tâm trạng tôi lúc đó, nửa sợ, nửa bứt rứt lương tâm. Tôi cảm thấy làm mẹ giống như tôi thật là ác quá. Tôi mong vượt qua nỗi ám ảnh để làm tròn trách nhiệm của người mẹ, nhưng tôi làm không nổi.

Có một lần, tôi đang làm thức ăn ở nhà bếp, lúc đó tôi đang cầm con dao để cắt cải. Nghe tiếng con tôi khóc ở trong phòng ngủ, tôi hốt hoảng cầm luôn con dao chạy vào phòng. Thấy nó khóc, tôi vì sợ nên quên trên tay đang cầm con dao. Tôi tính dùng hai tay ẵm nó lên để dỗ nó nín, không ngờ con dao trên tay tôi rớt xuống, dâm vào đùi con tôi. Nó hét thất thanh, cũng may là con dao nhỏ, nên đầu nhọn của mũi dao dâm trúng làm thành một dấu; máu rướm ra.

Tôi hốt hoảng hối hận, ôm con vào lòng rồi hai mẹ con khóc nức nở. Lần đầu tiên, tôi mới ôm con tôi thật lòng và cũng là lần đầu tiên, tôi cảm giác được tình thương mẫu tử. Tôi thức tỉnh hối hận và xin lỗi con tôi. Lúc đó, trong tâm tôi nghĩ, cho dù đứa bé này có đến đây để đòi nợ tôi đi nữa, thì tôi cũng phải thương vì nó là con của tôi.

Từ đó, tôi không còn sợ hãi hay nghi kỵ gì nữa, nhờ con dao vô tình đó đã đánh thức lương tâm tội lỗi của tôi. Rồi thời gian trôi qua, con tôi được khoảng một tuổi thì tôi lại mang thai đứa khác. Từ lúc con gái tôi biết đi, nó phá không tưởng tượng được, nó phá tới mức độ không còn là đứa bé bình thường.

Từ đó, chúng tôi phải bôn ba đủ chỗ vì mướn phòng nhà ai chưa quá ba ngày là bị đuổi, do không ai chịu nổi con của tôi. Trong cuộc đời tôi, chưa thấy đứa bé nào phá như con của tôi. Nó đốt luôn cả nhà, may kỳ đó cứu kịp nếu không là hai đứa con tôi đã bị chết. Tôi hỏi nó nhiều lần: “Tại sao con phá quá vậy?” Nó nói: “Tại vì mẹ ghét con, mẹ không có thương con”. Tôi nói: “Mẹ thương con mà”. Nó nhìn tôi với ánh mắt giận ghét, nó nói: “Mẹ nói xạo, mẹ ghét con!”

Tôi im lặng vì cảm thấy hối hận và xấu hổ. Sau đó, tôi nói với con tôi: “Con không hiểu đâu! Khi nào con lớn lên, mẹ sẽ kể cho con nghe, con sẽ không còn giận mẹ nữa”. Rồi thời gian đến gần sáu tuổi, con tôi không còn phá nữa. chỉ suốt ngày vào phòng đọc sách, nó rất ham học và thông minh hơn đứa trẻ bình thường.

 

Tiên Bị Đọa

 

Kính thưa quý bạn, ở đây tôi xin kể cho quý bạn nghe câu chuyện luân hồi của chị sinh đôi với tôi rất là ly kỳ thần thoại. Đáng lẽ trong cuốn sách này, tôi viết rất nhiều về câu chuyện của chị tôi nhưng vì bằng chứng đã mất. Điều này làm cho tôi rất buồn, tôi buồn là vì nếu còn bằng chứng, thì câu chuyện của chị tôi sẽ độ được nhiều người.

Câu chuyện của chị tôi thần thoại khó tin, nhưng có thật ở thế gian. Lời Phật dạy là vạn lần chân thật. Vì bằng chứng đã mất nên tôi chỉ kể một chút để cho quý bạn nghe, còn tin hay không là tùy quý bạn.

Chị tôi là tiên bị đọa. Mới sanh ra, chị tôi đi tiêu ra một hột ngọc nhỏ bằng ½ hột tiêu bắc, chung quanh có một sợi máu quấn ba vòng. Mẹ tôi không biết là hột gì, nên đem bỏ vào miếng bông gòn rồi để vào một góc tủ. Hơn một năm sau, mẹ tôi chợt nhớ nên tìm ra coi lại. Không ngờ, cái hột đó lớn bằng hột tiêu bắc, làm cho ba mẹ tôi hết hồn.

Khi chị tôi bập bẹ biết nói, chị tôi hay nói với mẹ tôi và gia đình: chị là tiên. Mẹ tôi thấy chị tôi nói chuyện lạ thường và hột ngọc biết lớn theo thời gian, mẹ tôi nghĩ chị tôi không phải là người thường. Sau đó, mẹ tôi đem hột ngọc và câu chuyện của chị tôi đi hỏi nhiều vị Cao Tăng. Chỉ cần biết ở đâu có cao tăng, mẹ tôi đều tới hỏi. Tất cả quý Thầy đều nói, chị tôi là tiên bị đọa, còn hột đó là hột ngọc người vì trong người chị tôi đi ra. Mẹ tôi hỏi quý thầy: “Vậy cuộc đời con gái tôi sẽ ra sao?” Quý thầy đều nói: “Đã là bị đọa, dĩ nhiên là cuộc đời con gái bà sẽ bị khổ hơn người bình thường”. Nghe xong, mẹ tôi rất buồn.

Đến khi chúng tôi được gần 11 tuổi, mẹ tôi gặp một vị cao tăng. Ông ta khuyên mẹ tôi nên dẫn hai chị em tới chùa để quy y tam bảo, để chị em tôi tu, mong là chuyển được nghiệp duyên. Sau đó, mẹ dẫn hai chị em tôi tới chùa Từ Vân ở gần nhà để xin Ngài Trụ Trì Thích Giác Hạnh cho 2 chị em tôi quy y và làm Phật tử. Sau khi nghe mẹ tôi kể về câu chuyện của 2 chị em tôi và đưa cho thầy coi hột ngọc; thầy đặt cho chị tôi pháp danh là Diệu Ngọc, còn tôi pháp danh là Diệu Ngộ. Sau này, tôi đổi pháp danh là Diệu Âm.

Từ nhỏ, tôi rất thích nghe chị tôi kể chuyện về những giấc mơ của chị. Có khi, chị rất vui vì gặp được nhiều tiên và nhiều Phật; có khi, chị rất buồn và khóc vì thấy địa ngục, nhiều người bị hành hạ khổ sở. Cuộc đời chị tôi ngộ lắm, chị thường biết trước được chuyện xảy ra và thường gặp mẹ Quán Âm, nhưng càng lớn tuổi thì những giấc mơ kỳ diệu và sự linh gnhiệm của chị càng lúc càng phai nhạt. Nếu kể hết câu chuyện ly kỳ của chị tôi phải mất mấy trăm trang.

Trước khi viết cuốn sánh này, tôi sực nhớ chị tôi có kể qua. Cách đây 12 năm, trước khi mẹ Quán Âm lấy lại hột ngọc, chị tôi có đem viên ngọc tới gởi cho một vị trụ trì. Tôi gọi về VN hỏi lại đầu đuôi. Sau đó, tôi kêu chị tôi đi đến Ngài trụ trì Thích Từ Giang, ở chùa Linh Quang Tịnh Xá, đường Nguyễn Khoái, P3. TPHCM, để xin thầy làm chứng và viết một chứng thư là hột ngọc người của chị tôi có thật. Tuy hột ngọc người của chị tôi có nhiều người thấy qua, nhưng bằng chứng của thầy trụ trì sẽ làm đại chúng tin hơn, vì người tu không dám nói dối.

Nhưng không ngờ, bằng chứng cuối cùng cũng bị mất. Vì thầy nói: thầy không biết trong hộp đó có hột ngọc. Vả lại, của Phật tử gởi, thầy đâu có mở ra xem làm gì. Vì không thấy nên thầy không dám làm chứng.

Chuyện là như vầy, cách đây 12 năm, thời gian đó, chị tôi đau khổ vì chồng nên ẵm con ra đi. Vì sợ hột ngọc bị mất, nên chị đem đến chùa nhờ thầy giữ dùm. Khi tới nơi, thấy thầy quá bận rộn vì nhằm dịp lễ Vu Lan, chị tôi không kịp kể cho thầy nghe câu chuyện của hột ngọc. Chị tôi chỉ đưa cho thầy một cái hộp nhỏ và nói: “Thưa thầy, giúp con giữ cái hộp này, vì cái hộp này rất là quan trọng, con sợ để bên mình bị mất nên nhờ thầy giữ dùm”.

Lúc đó, chị tôi ôm con thơ, không nơi trú ẩn, ẵm con đi như một kẻ ăn xin. Được thầy nhận lời giữ dùm là chị tôi yên tâm. Lúc đó chị tôi nghĩ: đợi kiếm được nơi trú thân và đợi thầy hết bận rộn, chị tôi sẽ đến kể cho thầy nghe về chuyện hột ngọc, để thầy giúp cất kỷ hơn. Không ngờ qua hai tuần sau, mẹ Quán Âm báo mộng mấy lần, kêu chị tôi tới chùa thỉnh lại hột ngọc.

Chị tôi tới chùa, xin thầy cho thỉnh lại. Sau khi đem về nhà, chị cất vào hộc tủ. Mấy ngày sau chị tôi coi lại, thì hột ngọc đã bị mất. Còn tôi, sau khi qua mỹ, tôi cứ mong có dịp trở về để coi lại hột ngọc của chị tôi. Chờ đợi mãi vẫn không có ngày trở lại. Vì nhớ hột ngọc, nên tôi kêu chị tôi chụp hình hột ngọc gởi qua cho tôi xem. Không ngờ chị tôi nói: “Hột ngọc đã bị mẹ Quán Âm lấy lại rồi”. Tôi không tin nên nổi giận, cho là chị tôi nói xạo. Tôi hỏi chị tôi, có người trong nhà ăn cắp hột ngọc của chị đem bán phải không? Chị tôi nói không. Tôi nói: “Chị nói đi, ai là người ăn cắp hột ngọc của chị, em nhất định sẽ không bỏ qua đâu”. Chị tôi nói: “Bộ em quên hột ngọc có linh tánh sao? Xưa nay hột ngọc bị mất nhiều lần, nhưng lần nào cũng tìm lại được”. Sau khi nghe chị tôi phân giải, tôi mới tin vì tôi nhớ lại:

Có một lần nhà tôi bị cháy, nhưng hột ngọc vẫn còn nguyên trong đống tro tàn. Có lần, có người ăn cắp hột ngọc. Sau đó, tự người đó đem đến trả lại. Chị tôi hay bị bệnh nên từ nhỏ mẹ tôi cho chị tôi đeo hột ngọc bên mình để hộ mạng. Tánh chị tôi vô tư nên đã bị rơi mất nhiều lần, nhưng lần nào cũng tìm lại được.

Chị tôi nói: Từ ngày mẹ Quán Âm lấy lại hột ngọc, cuộc đời chị tôi mới thấy dược ánh sáng. Chị tôi thật là tội nghiệp lắm. Mỗi lần chị tôi bị khổ tới đường cùng, chị muốn cầu cứu tôi bên này giúp đỡ. Nhưng lần nào hai chị em tôi cùng rơi vào một hoàn cảnh giống nhau, nên tôi không giúp được chị tôi nhiều. Đây cũng là nghiệp báo.

Từ đầu đến cuối, tôi kể hột ngọc cho quý bạn nghe, mà quên không diễn tả hột ngọc đó như thế nào để quý bạn có thể hình dung. Hột ngọc đó lớn bằng đầu đũa lớn, rồi ngưng không lớn nữa. Hột ngọc trong suốt như một hạt sương mai buổi sáng đọng trên lá. Khi bỏ hột ngọc vào lòng bàn tay, chúng ta tưởng là một giọt nước long lanh trong sáng. Nhưng khi đụng vào, thì cứng như viên ngọc.

Kính thưa quý bạn, tôi kể hai câu chuyện luân hồi của gia đình tôi, nhưng lại không có đủ bằng chứng sẽ khó làm cho quý bạn tin. Nếu quý bạn không tin thì không chịu niệm Phật để tu giải thoát, vậy tâm nguyện của tôi có khác gì như cát đổ biển Đông. Nên ở đây, bắt buột tôi phải viết thêm tiểu sử về gia đình, chỗ ở và tiểu sử của chị em tôi. Để quý bạn nào biết gia đình tôi, khị đọc cuốn sách này, quý bạn sẽ nhớ lại chuyện năm xưa của gia đình tôi. Mong quý bạn sẽ là những người làm chứng cho những chuyện tôi kể là chân thật.

Gia đình tôi ở Huyện Đá Bạc, thị xã Cam Ranh, tỉnh Cam ranh. Gia đình tôi ở trong  một cái xóm. Xóm này nằm trong khu quân sự. Vì là vùng quân sự nên dân cư không có đông. Xóm trên xóm dưới, cộng lại khoảng 100 căn nhà. Chung quanh xóm bao bọc bởi những khu quân đội, có nhiều binh chủng khác nhau. Như là Quân Cảnh, Quân Cảnh Tư Pháp, Đặc Khu Cam Ranh, Cảnh Sát, Phụng Hoàng, Xây Dựng Nông Thôn Khu quân sự này nằm gần biển. Bãi biển này rất lớn, có hai dãy núi Hòn Rồng và Hòn Rùa bao quanh (vì hai dãy núi này giống con rồng, và con rùa nên người đời gọi như vậy). Bên kia có nhiều đèn là Bán Đảo Cam Ranh, là khu quân sự của Mỹ, giữa 2 dãy núi là cửa biển Quốc Tế. Trên cửa biển lúc nào cũng có mấy hạm đội của Mỹ phòng thủ.

Vì là vùng cấm địa và quân sự, nên quanh năm ở đây hay bị pháo kích và gài mìn. Dân cư ở đây, nhà nào cũng có hầm để ẩn núp những khi bị pháo kích. Vùng này tập trung nhiều binh chủng khác nhau, nên hay gây ra đánh lộn. Mỗi khi đánh lộn, họ thường dùng lựu đạn và súng ống. Dân chúng ở đây đã quen với cảnh chết chóc và bom đạn. Mạng sống con người ở đây rất rẻ.

Gia đình tôi ở gần khu núi đá, trên núi đá có một cái Lô Cốt. Nghe truyền thuyết hồi thời Pháp, họ đã giết và chôn sống nhiều người bỏ vào trong đó. Xóm trên có cô Hồng không tin trên đời này có ma, nên cô mặc kệ sự cản ngăn của hàng xóm. Cô mướn người đập Lô Cốt đó xuống để lấy gạch xây nhà. Trong lúc đập xuống, cũng có mấy người trong xóm tới lấy gạch để đắp nền nhà. Không ngờ sau khi Lô Cốt đó đập xuống không được bao lâu, thì các hồn ma dàn ra cả xóm. Chúng đi đòi những kẻ đập Lô Cốt và lấy gạch trả lại cho chúng (có một đêm mẹ tôi thấy mấy người ma không đầu, họ đi lủ thủi, đứng, ngồi trên núi đá đó. Mẹ tôi rất là đau lòng, vì mẹ tôi biết chuyện đó sẽ xảy ra). Ai nấy cũng sợ đem gạch trả lại. Chỉ có cô Hồng là không chịu trả lại vì nhà cô đã xây xong. Cuối cùng, cô bị nhiều hồn ma nhập vào mình, làm cô điên khùng than khóc ngày đêm. Mẹ cô Hồng thỉnh thầy pháp đến đuổi ma nhưng đều bị thất bại. Cuối cùng thỉnh được một vị thầy cao tay, tới khuyên chúng tha cho cô Hồng và thầy hứa sẽ làm nhà lại cho chúng. Từ đó, trên núi đá đó mới có một ngôi miếu. Chuyện này rất ly kỳ, quý bạn sẽ không bao giời quên.

Ở xóm, ai cũng gọi ba mẹ tôi là ông bà Thái hoặc “Gia đình ông bà có hột ngọc”. Sau này, gia đình tôi có thêm một cái tên là “Gia đình có đứa con rắn”. Trong vùng chỉ có gia đình tôi là họ Đồng và chỉ có chị em tôi là chị em sinh đôi. Chị tôi tên Tuyết, tôi tên Lan.

Còn mộ em tôi chôn ở miếng đất hoang đằng sau nhà Hội Đồng Xã, gần con đường mòn di xuống biển, bên kia là Xây Dựng Nông Thôn. Hồi nhỏ, chị em tôi hay lấy tròng mắt cá còn sống để gạt các bạn. Chị em tôi nói đó là hột ngọc, để các bạn không còn tới năn nỉ chị em tôi, ăn cắp hột ngọc của mẹ tôi cho các bạn coi. Lúc đó, các bạn tưởng là thật nên cứ năn nỉ đòi mua. Có một lần, chị em tôi vì ham tiền nên gạt bán cho các bạn. Các bạn đem về khoe với ba mẹ. Ba mẹ các bạn biết đó là mắt cá nên tới mắng vốn ba mẹ tôi, làm cho hai chị em tôi bị đòn.

Sau chuyện mắt cá đó, các bạn lên trường đồn, nói là chị tôi có hột ngọc giả, không có thật như người ta nói. Tôi cứ cãi với bạn là chị tôi có hột ngọc thật. Các bạn cả đám nói: “Nếu thật thì mày về ăn cắp hột ngọc thật cho tụi tao coi đi, thì tụi tao mới tin”. Lúc đó tôi thật là khờ dại, đi về ăn cắp hột ngọc đem lên trường cho cô giáo và các bạn coi. Sau đó, vì mấy chục người bu lại giành nhau coi, nên hột ngọc bị mất.

Tới giờ tan trường, ai nấy cũng về, còn hai chị em tôi ở lại sân trường ngồi khóc. Chị tôi la tôi: “Ai biểu mày ăn cắp hột ngọc của mẹ làm gì?” Tôi vừa khóc vừa nói: “Tao không muốn tụi nó nói mày có hột ngọc giả”. Sau đó, có một bạn học chạy đến trường trả lại hột ngọc cho chị em tôi và nói: “Tôi xin lỗi bạn, vì thấy hột ngọc đẹp, nên tôi ăn cắp đem về cho mẹ tôi coi. Coi xong, mẹ tôi bắt tôi phải đem trả lại cho bạn gấp”. Hai chị em tôi mừng quá, cám ơn lia lịa rồi cùng nhau chạy về nhà.

Thời gian chị em tôi học ở trường tiểu học Cam Ranh là năm 1969-1974. Các bạn thường gọi chị em tôi là “Chị em sinh đôi” hay “Chị em con nhỏ có hột ngọc”. Chị em tôi là hai con nhỏ hay vũ, đóng kịch và thường giả Hùng Cường và Mai Lệ Huyền, hát những bản nhạc tình ca của lính. Mỗi lần chị em tôi hát và nhảy, làm cho thầy cô và các bạn cười lăn ra. Tôi là con nhỏ mỗi sáng thứ Hai, hay hát bài quốc ca chào cờ ở trên loa. Chị em tôi cũng là hai con nhỏ hay kêu các bạn ôm cặp táp dùm, để chị em tôi phụ đẩy xe xích lô ở cổng trường.

Còn một chuyện này rất là khó quên, tôi bảo đảm thầy cô, các bạn và những người chung quanh trường không bao giời quên. Đó là câu chuyện cái giếng nước ở bên cạnh trường. Chuyện con nhỏ học trò bị té xuống giếng. Con nhỏ học trò đó là tôi. Cái giếng nước này trước đó đã làm cho thầy cô và những người dân chung quanh lo lắng. Vì giếng nước này rất sâu và có nhiều nước, nhưng thành giếng quá thấp chỉ có một bi. Vì vậy dân cư và thầy cô ở đây cấm con nít và học sinh không được đến gần.

Giời tôi xin kể một chút để các bạn biết. Hôm đó, chị tôi khát nước mà nước trong bình mang theo đã hết. Tôi dẫn chị tôi tới giếng, thấy chiếc gầu quá nặng, dây thừng quá lớn. Lúc đó tôi nghĩ, bỏ gầu xuống khi nước chảy vào một chút, tôi sẽ kéo lên thì không sao. Không ngờ cái gầu quá nặng, mới bỏ xuống nước đã đầy, tôi kéo lên không nổi. Chị tôi phụ tôi kéo cũng không lên. Chị tôi buông ra khóc và năn nỉ tôi: “Lan ơi! Mày buông ra đi, nếu không mày sẽ bị té xuống giếng đó”. Tôi nói: “Không được! Cái giếng này chỉ có một cái gầu này thôi, nếu tao buông ra thì gầu sẽ bị chìm”. Chị tôi nói: “Bị chìm thì bỏ, còn hơn mày bị té”. Lúc đó, tôi thật là khờ dại không nghe lời chị tôi khuyên, tôi cứ cố gắng kéo cái gầu đó lên, không ngờ cái gầu quá nặng kéo tôi rớt xuống giếng. Chị tôi la khóc kêu cầu cứu, còn tôi ở dưới giếng thật là sợ lắm vì tối thui. Sau đó, thầy cô hàng xóm bu quanh miệng giếng,. Họ bỏ dây thừng xuống cho tôi nắm để kéo tôi lên. Nhưng ba lần, họ kéo tôi tới được gần miệng giếng, thì tay tôi bị đuối sức nên rớt xuống trở lại. Cuối cùng, có một chú leo xuống khoảng mấy bi với dây thừng cột ngang lưng. Còn tôi ráng sức nắm sợi dây đó, vừa tới gần miệng giếng, thì chú đó nắm lấy tay tôi. Nhờ vậy mà tôi được cứu. Lên tới nơi, quần áo tôi rách tả tơi, máu me tùm lum. Vì dưới đáy giếng có nhiều cái gầu, cây và mũ sắt của lính. Nên mỗi lần trên cao rớt xuống thì bị đập vào mấy thứ này.

Sau lần đó, có nhiều bạn học ở trường chế giễu tôi là ngu, vì chiếc gầu mà để bị té xuống giếng. Lúc đó tôi thật là buồn lắm, nhưng sau khi thành giếng được xây lại an toàn, tôi không còn buồn nữa. Vì chuyện ngu khờ của tôi cũng có ý nghĩa.

Kính thưa thầy cô và các bạn, năm 75, gia đình tôi di tản vào Sài Gòn. Sau đó tôi qua Mỹ. Còn thầy cô và các bạn vẫn còn ở đó hay mỗi người một nơi. Riêng tôi đã hơn 27 năm, lúc nào cũng mong có một ngày trở lại Cam Ranh, nhưng chờ mãi vẫn không có cơ hội. Tôi mong cuốn sách nhỏ này đến được tay thầy cô và các bạn, để chúng ta cùng nhau di cư về Cõi Phật.

 

Phần Kết Luận

 

Kính thưa quý bạn, qua hai câu chuyện luân hồi của con gái và chị tôi, thêm vào chuyện chuột biết trả thù cho chúng ta thấy: con người vốn có chuyện luân hồi. Dù là các loại thú lớn, nhỏ đều có linh tánh và Phật tánh. Vì vậy mà Phật nói: “Tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành”.

Chúng ta trong quá khứ đã trải qua vô số hình dạng khác nhau. Chẳng qua khi đầu thai, chúng ta phải trải qua giai đoạn biến hóa của thai sanh, nên chúng ta quên hết chuyện quá khứ.

Chúng ta tới đây là để báo ơn và báo oán. Cũng như con tôi có duyên với tôi, nên ba kiếp của nó đều có sự liên hệ với tôi. Trước kia, tôi không hiểu tại sao em tôi thành rắn? Sau này tôi mới hiểu, vì thần thức phút cuối rất quan trọng. Lúc đó, em tôi hận là bị người ta chích thuốc cho chết. Rồi khi chết, ba tôi vì giữ tai tiếng nên vô tình đối xử em tôi thậm tệ. Vì quá hận, nên thần thức dẫn em tôi đầu thai thành rắn.

Hai chị em tôi nhờ trải qua nhiều thăng trầm đau khổ của thế gian, nên đã thức tỉnh. Thấy cuộc sống vô thường, làm người quá đau khổ, nên hai chị em tôi quyết tâm tu để thoát khỏi luân hồi.

Lời Phật dạy là vạn lần chân thật. Chị tôi may mắn còn trở lại làm người. Trong bút ký, có biết bao nhiêu chuyện sau khi làm tiên bị đọa thẳng vào ba đường ác. Vì thấy sự tai hại này, mà Đấng Từ Phụ, luôn luôn nhắc nhở chúng ta đừng chỉ lo tu phước mà phải lo tu giải thoát.

 

Chư Phật Gia Hộ

 

Kính thưa quý bạn, trong thời gian viết cuốn sách này, có nhiều sự nhiệm màu của Chư Phật gia hộ, vượt qua ngoài tưởng tượng của tôi. Thật ra cuốn sách này được hoàn thành, không phải là thành quả của tôi. mà hoàn toàn nhờ vào Chư Phật gia hộ (vì tôi chỉ học tới lớp 6 thì làm sao có thể viết văn. Nhưng nhờ niệm Phật và Chư Phật gia hộ, nên tôi mới có đủ khả năng để hoàn thành được cuốn sách này. Đây là sự nhiệm màu của Phật pháp). Ở đây, tôi xin đưa ra một câu chuyện bằng chứng hy hữu, mà Chư Phật đã gia hộ cho chị em tôi, để quý bạn tin sự gia hộ là có thật.

Trong thời gian viết cuốn sách này, có một điều tôi luôn luôn nuối tiếc, đó là câu chuyện luân hồi của chị tôi không có đủ bằng chứng. Có đôi lần tôi thầm than thở, tôi nói “Mẹ Quán Âm ơi! Tại sao Mẹ lấy viên ngọc lại sớm quá, nếu trể một chút thì câu chuyện của chị con sẽ độ được nhiều người”. Không ngờ những lời than thở trong tâm tôi đã được Chư Phật cảm ứng. Ngày 26 tháng 5 năm 2003, tôi gọi về Việt Nam, gặp chị Hai, tôi nói “Chị Hai ơi! Cuốn sách em viết xong và đã đưa cho nhà sách in rồi, vài tuần nữa là có sách gởi về cho gia đình” Chị tôi cắt ngang với giọng nói hấp tấp “Không được, không được, em phải ngưng lại ngay” Tôi ngạc nhiện hỏi tại sao? Chị tôi nói với giọng mừng rỡ “Hột ngọc đã có bằng chứng rồi” Tôi hỏi “Bằng chứng gì?” Chị tôi nói “Con Tuyết nó đã tìm được thầy Thích Giác Hạnh, là người cách đây 30 năm làm lễ quy y và đặt pháp danh cho hai đứa “Tôi nghe qua, nửa mừng nửa nghi, tôi nói “Không phải thầy đã vãng sanh rồi sao?” Chị tôi nói “Không! Không! Thầy vẫn còn sống và trẻ lắm, không già như chị em mình nghĩ đâu”. (Chị em tôi lâu nay cứ nghĩ thầy đã vãng sanh, vì lúc quy y, chị em tôi còn quá nhỏ nên không nhớ thầy Trụ Trì là ai, cứ nghĩ là thầy đã lớn tuổi lắm rồi, cộng thêm vào cách đây 30 năm, thì làm sao thầy còn sống. Vì vậy mà chị em tôi không đi tìm thầy). Tôi hỏi chị tôi “Vậy thầy khoảng bao nhiêu tuổi?” Chị tôi nói “Thầy 58 tuổi” Tôi thất vọng và nói “Không thể nào! Chị Tuyết đã tìm lộn thầy rồi” Chị tôi nói “Không, lúc thầy làm Trụ Trì ở chùa Từ Vân, tỉnh Cam ranh, thầy chỉ có 27 tuổi” Tôi không tin nên nói “Mới 27 tuổi, làm sao có thể làm Trụ Trì một ngôi chùa lớn như vậy?” Chị tôi nói “Lúc đầu, tụi chị cũng nghĩ như em, cho tới khi nghe thầy kể câu chuyện cách đây 30 năm, mẹ dẫn 2 đứa em tới chùa quy y gặp thầy ra sao và đưa cho thầy coi hột ngọc như thế nào” Lúc đó, tụi chị mới tin, thì ra chính là thầy.

Sau khi nghe chị tôi kể xong câu chuyện, tôi mừng và xúc động đến bật khóc. Chị tôi nói tiếp “Em biết không? Con Tuyết nó mừng tới khóc luôn, rồi sáng nay, nó và em Dung đi ra Vũng Tàu để tìm thầy rồi”. Sau cuộc nói chuyện với chị tôi, lòng tôi lâng lâng một niềm hạnh phúc không thể tả. Lúc đó, trong tâm tôi chỉ ước mong sao gặp được thầy, cảm giác có thầy thật là ấm cúng. Thật thương cho tôi bao nhiêu năm, cứ lủi thủi một mình tự tu tự học. Rồi tôi tủi thân, tự hỏi “Tại sao mình vẫn chưa có duyên gặp được thầy?” Giờ gặp lại thầy mới thấy mình ngu khờ, giống như câu chuyện trong bút ký, nói về một gã ăn xin có viên ngọc quý cột trong chéo áo mà không biết.

Xin quý bạn hãy đọc trang kế tiếp, đó là lá thơ tâm sự của thầy và chị Diệu Ngọc của tôi gởi đến cho quý bạn. Ngoài ra, còn có hình ảnh của thầy, Chị Diệu Ngọc và chữ ký thị thực chứng minh lần quy y của chúng tôi cách đây 30 năm.

 

 

 

 

 

 

 

 

Lá Thư Tâm Sự

(Diệu Ngọc kính gởi)

 

Nam Mô A Di Đà Phật

Kính gởi các bạn hữu!

Tôi tên là Đồng Thị Ánh Tuyết, pháp danh là Diệu Ngọc. Em tôi là Diệu Ngộ (Diệu Âm) chúng tôi là chị em song sanh. Nay nghe em tôi viết một cuốn sách “Kinh nghiệm niệm Phật và những chuyện luân hồi” trong đó có kể câu chuyện luân hồi của tôi.

Trong thời gian em tôi viết cuốn sách này, hai chị em tôi rất buồn vì hột ngọc không có bằng chứng rõ ràng, sẽ khó làm cho các bạn tin. Nhưng cuộc đời tôi hầu như mọi chuyện đều do ơn trên xoay chuyển, xếp đạt. Chính tôi cũng không thể nào giải thích hay diễn đạt hết sự nhiệm màu mà bản thân tôi đã trải qua, vì ngôn ngữ không đủ để giải thích. Mà dù tôi có cố gắng đi chăng nữa, thì cũng khó có ai tin và sẽ cho câu chuyện của tôi là hoang đường. Nên ở đây, tôi chỉ xin chia xẻ với các bạn về sự gia hộ nhiệm màu của Chư Phật. Có một điều cho tới bây giờ tôi cũng không hiểu là tôi có nhân duyên may mắn gì, mà luôn luôn được Mẹ Quán Âm thị hiện, che chở và gia hộ những lúc tôi gặp khổ đau hay tuyệt vọng.

Cũng như câu chuyện hy hữu mới đây, tôi không ngờ đã tìm lại được thầy tôi sau 30 năm xa cách, người thầy mà chị em tôi cứ ngỡ đã vãng sanh lâu rồi, nhưng không ngờ thầy vẫn còn sống.

Ở đây tôi xin gởi đến các bạn vài hàng tâm sự, về sự ngẫu nhiên nào mà tôi tìm được thầy của tôi. Khoảng một năm qua, em tôi là Diệu Ngộ (Diệu Âm) giao cho tôi làm phật sự ấn tống cuốn sách “Niệm Phật Lưu Xá Lợi” của bác cư sĩ Tịnh Hải để gởi đi khắp nơi. Vì vậy trong một năm qua, tôi thường lui tới nhà sách để đặt sách và lấy sách. Nhờ gởi kinh sách nên tôi có duyên quen biết với thầy Thích Thông Châu. Thầy cho tôi biết là thầy ở thiền viện Thường Chiếu Vũng Tàu.

Có một lần chị hai tôi dọn nhà, soạn lại một số giấy tờ và những hình ảnh trả lại cho tôi, vô tình tôi gặp lại giấy quy y năm xưa, tôi thấy tên thầy tôi là Thích Giác Hạnh. Lúc đó trong tâm chợt nghĩ có khi nào thầy tôi còn sống mà tôi không biết? Sau đó có lần nói chuyện với em Thoa của tôi, tôi hỏi “Em hay đi chùa, vậy em có bao giờ nghe thầy nào tên là Thích Giác Hạnh không? Em tôi nói “Có! Là Ông thầy hay kể những chuyện lạ của thế kỷ 21 trong băng cassette mà em đã đưa cho chị nghe cách đây mấy năm trước” Tôi hỏi thầy đó đang ở đâu?” Em tôi nói ở Vũng Tàu, nhưng em không biết là chùa nào”. Lúc đó tôi nghe qua, trong tâm cứ nghĩ là trùng tên thôi, phần gặp lúc đang có nhiều chuyện xảy ra trong gia đình, nên chưa nghĩ đến chuyện đi tìm thầy.

Mãi đến ngày 16 tháng 5 năm 2003, tôi bị ngã bệnh, nhập viện hết 7 ngày. Trong lúc bị cơn bệnh hành hạ chán đời, bỗng nhiên tôi chợt nhớ đến thầy tôi và cảm giác là thầy tôi vẫn còn sống, rồi lòng tôi cứ nôn nóng mong ngày xuất viện. Sau khi xuất viện, tôi liền gọi cho thầy Thích Thông Châu, vì thầy cũng ở Vũng Tàu, mong là thầy có thể giúp được tôi. Thật không ngoài ý nghĩ của tôi, thầy đã cho tôi số điện thoại của thầy Thích Giác Hạnh. Cầm số điện thoại của thầy trong tay mà lòng tôi phập phồng cảm xúc. Tôi ngập ngừng không dám gọi, nhưng sau khi suy nghĩ một hồi, tôi đã không còn đắn đo. Tôi gọi đến chùa, khi nghe tiếng của thầy, tôi không biết bắt đầu từ đâu. Tôi chỉ xin thầy hoan hỷ nghe tôi kể một câu chuyện cách đây 30 năm. Lúc đó thầy tôi quá bất ngờ, không nhớ được câu chuyện của 2 chị em tôi, đến khi tôi kể đến viên ngọc, thì thầy liền nhớ lại và thầy kể cho tôi nghe câu chuyện năm xưa, mẹ tôi dẫn 2 chị em tôi đến gặp thầy và đưa cho thầy coi viên ngọc như thế nào. Sau khi nghe thầy thuật lại câu chuyện, tôi mừng và xúc động đến rơi nước mắt, không thể nào diễn tả bằng lời. Gập thầy như gặp lại người cha thứ hai, cho tôi pháp danh là Diệu Ngọc.

Sau cuộc nói chuyện với thầy, tôi cứ mong gặp được thầy để coi hình dáng thầy bây giờ ra sao. đến khi gặp được thầy, lòng tôi cảm xúc vô bờ bến, như gặp lại người cha bấy lâu xa cách. Tôi cảm thấy hạnh phúc, ấm cúng và có niềm tin, tôi có thể tâm sự cho thầy nghe những chuyện đã xảy ra trong cuộc đời tôi hết mấy mươi năm. Giờ tôi mới thấm nhuần được ý nghĩa câu “Lá rụng về cội”

Kính thưa các bạn hữu, mọi chuyện đều do ơn trên gia hộ. Nếu như tôi không ngã bệnh, thì tôi chưa gặp lại thầy tôi. Trong thời gian nằm bệnh viện, tôi bị chích hết mũi kim này tới mũi kim khác, thân thể đau đớn, tôi cảm thấy làm người quá đau khổ. Càng đau đớn, tôi càng mong sớm được vãng sanh để giải thoát. Trong lúc đau khổ, tự nhiên tôi ao ước được gặp lại thầy tôi dù tôi không nhớ thầy là ai. Lúc đó, trong tôi có một sự thúc đẩy vô hình nào đó, thật là khó giải thích, khiến cho tôi cứ nôn nóng muốn đi tìm thầy.

Sau khi gặp thầy, tôi mới biết cơn bệnh vừa qua là do ơn trên đặt để, khiến cho tôi quyết tâm đi tìm thầy, để thầy làm chứng cho viên ngọc và câu chuyện luân hồi của tôi. Vì chỉ có thầy mới là người duy nhất có thể làm chứng cho câu chuyện này, để tâm nguyện của em tôi được tròn.

Ở đây, tôi xin thưa với các bạn hữu một điều đó là: Chư Phật và Chư Bồ Tát lúc nào cũng ở bên cạnh chúng ta, chỉ cần chúng ta niệm Phật và có lòng thành, thì chúng ta sẽ cảm ứng được sự gia hộ của Chư Phật và Chư Bồ Tát.

Diệu Ngọc

Kính bút.

Nam Mô A Di Đà Phật.

 

 

 

Cảm Tạ Ân Đức Sư Phụ

Thích Giác Hạnh

 

Con là Diệu Ngộ (Diệu Âm)

Nay con xin cúi đầu đãnh lễ cảm tạ

ân đức của sư phụ,

đã cho con được tròn tâm nguyện

và con cám ơn thầy đã đặt cho con

pháp danh là Diệu Ngộ,

nhờ nhân duyên này mà con đã được ngộ đạo.

Đây là duyên phần thầy trò có sẵn,

nên 30 năm sau, khi con viết cuốn sách đầu tay,

Chính thầy lại là người chứng minh

và dạy cho con sửa những điều sai.

Con cám ơn thầy đã cho con một

niềm hạnh phúc ấm áp.

Con xin sư phụ hãy giữ gìn sức khỏe

trên đường đi hoằng truyền Phật Pháp.

 

Con xin kính chào Sư Phụ

Con Diệu Ngộ (Diệu Âm)

Nam Mô A Di Đà Phật

 

Lời Thỉnh Cầu

 

Kính thưa quý bạn đồng tu tại gia, tôi biết quý bạn có rất nhiều người niệm Phật, đã chứng được nhất tâm tam muội và cũng có rất nhiều người biết, thấy những chuyện luân hồi của thế gian. Chẳng qua quý bạn không muốn nói ra, không muốn khoe cho người ta biết, vì sợ người đời chửi chúng ta là tu mà còn tánh khoe khoang, tự cao hay là tham danh, v.v. Vì xưa nay, người đời thường nó “thùng rỗng thì kêu to” kẻ không ra gì thì hay khoe khoang. Người tu chứng thật sự là những người ẩn danh im lặng, còn những kẻ tu giả mới phô trương.

Lời nói của ông bà xưa nay rất đúng, nhưng chỉ đúng trên cái đối đãi của thế gian. Còn trên Phật pháp, tu hành dộ chúng, thì chúng ta phải đi ngược với sự đối đãi của thế gian. Chúng ta xưa nay chỉ đưa ra kinh sách, thực hành cao siêu của Phật, nhưng chúng ta không đưa ra bằng chứng nhiệm mầu của Phật. Bằng chứng là quan trọng nhất vì bằng chứng là niềm tin, là hy vọng mà tất cả chúng ta, ai cũng đều muốn thấy.

Quý thầy trong chùa xưa nay không phát huy, lưu truyền mạnh mẽ bằng chứng nhiệm màu của Phật pháp ra ngoài đại chúng, vì quý thầy có nỗi khổ tâm của quý thầy. Tại saô? Vì quý thầy Tăng ni ở chùa, trách nhiệm phải dẫn dắt cả đại chúng. Chùa thì nhiều phái tông khác nhau, đại chúng Phật tử thì đông. Mỗi chùa mỗi thầy đều có cái nhìn, kinh nghiệm tu tập khác nhau. Nếu như quý thầy đưa ra sự tu hành chứng đắt của quý thầy, sẽ khiến cho đại chúng rối loạn, phân tranh ganh tị. Vô tình sẽ làm tổn hại đến Phật pháp, chùa và tăng. Vì vậy mà xưa nay, bằng chứng nhiệm mầu của Phật pháp không được lưu rộng khắp nhân gian, mà chỉ phát huy nhỏ hẹp trong phạm vi của chùa.

Còn chúng ta tu tại gia thì khác, vì chúng ta không bị ràng buộc bởi một nhóm hay là đại chúng. Vả lại, lời nói bằng chứng của chúng ta, sẽ có hiệu quả ảnh hưởng lòng tin của đại chúng nhiều hơn. Tại sao? Vì quý thầy tu ở chùa là những bậc có thượng căn, chuyện chứng đắc của quý thầy là chuyện đương nhiên, không có gì là lạ đối với đại chúng tại gia. Còn chúng ta tu tại gia mà được chứng đắc, điều này khiến cho tất cả đại chúng tại gia có đủ niềm tin, hy vọng để tu giải thoát. Đây là một cách độ người có hiệu quả nhất.

Chỉ cần độ được chúng sanh, chúng ta ngại gì bị người ta chửi. Chúng ta khoe Phật pháp nhiệm mầu, nào có khoe bản thân mà chúng ta phải sợ. Miệng chúng ta khoe, tâm của chúng ta không động là đủ rồi.

Ngoài việc chúng ta đi khuyên người niệm Phật, chúng ta phải mạnh dạnh khoe sự an lạc nhiệm mầu, mà chúng ta đã có được từ nơi Phật pháp. Chúng ta phải cho tất cả đại chúng biết: Phật pháp là vạn lần chân thật. Còn nếu chúng ta khuyên người niệm Phật, mà không dám đưa ra bằng chứng nhiệm mầu của Phật pháp, vậy chúng ta làm sao xứng đáng với hai chữ đại thừa? Ý nghĩa của hai chữ đại thừa, là đem giáo học và bằng chứng nhiệm nầu của Phật pháp lưu truyền khắp nhân gian.

Kính thưa quý bạn, trong tâm tôi có một thỉnh cầu và ước mong: trong chúng ta, nếu có ai biết trước ngày giờ ra đi vãng sanh, chúng ta nên mời đài truyền hình hay báo chí tới nhà, quay cảnh từ đầu tới cuối. Còn nếu chúng ta không biết rõ ngày giờ, chúng ta nên nhờ người quen tới quay rồi đưa ra đại chúng. Cũng như câu chuyện niệm Phật vãng sanh của cụ bà Triệu Vĩnh Phương, 94 tuổi, ở Trung Hoa Lục Địa, vãng sanh năm 1999. Cụ đã để lại cuộn phim thâu tất cả bằng chứng khi cụ vãng sanh ra đi tự tại. Để lại vô số xá lợi: mình là mẹ Quán Âm, đầu là Phật A Di Đà và một đài sen. Đây là bằng chứng hùng hồn, nhiệm mầu của Phật pháp. Cụ bà tuy đã vãng sanh, nhưng cuộn phim của cụ bà đã độ không biết bao nhiêu là chúng sanh.

Chỉ có cách này là độ người nhanh nhất, chỉ có cách này mới xứng đáng với hai chữ đại thừa, và là chứng minh hùng hồn cha cả thế giới biết Phật pháp là vạn lần chân thật. Nếu chúng ta ai cũng đều làm như vậy, tương lai địa ngục và ngạ quỷ sẽ không còn tiếng than khóc đau khổ của chúng sanh.

Kính thưa quý bạn, tôi là một người không có học vấn cao. Về Phật pháp, bản thân chỉ hiểu được chút ít, nhưng vì muốn giải tỏa tâm sự, nên tôi đã cố gắng viết một chút kinh nghiệm, hiểu biết nông cạn của mình hầu mong góp một chút sức mọn, để cùng nhau đẩy mạnh bánh xe Phật pháp ngày càng vững mạnh hơn.

Tôi biết quý bạn rất nhiều người học cao, hiểu thông Phật pháp và niệm Phật đã được nhất tâm tam muội. Nếu chúng ta cùng nhau hợp sức mỗi người một ít, thì bánh xe Phật pháp sẽ vĩnh viễn trường tồn.

Xin kính chào quý bạn

Diệu Âm (Diệu Ngộ) 

Nam Mô A Di Đà Phật

 

Kính thưa quý vị, từ đầu đến cuối cuốn sách này, tôi dùng chữ bạn để tâm sự với quý vị, mong quý vị đừng hiểu lầm, cho là tôi mất lễ phép. Chữ bạn ở đây là cách xưng hô ở trong nhà Phật, không phải cách xưng hô đối đãi của thế gian, vì trong nhà Phật, tất cả chúng sanh đều bình đẳng. Khi chúng ta phát tâm niệm Phật, thì tất cả chúng ta đều là đệ tử của Phật A Di Đà. Đã là đệ tử của Phật thì tất cả chúng ta là bạn đồng tu, đồng hành. Dù là đứa bé 3 tuổi cũng là bạn của chúng ta. Không những là đứa bé 3 tuổi, mà luôn cả những con vật nhỏ như vi khuẩn cũng là bạn của chúng ta. Tuy bây giờ chúng chưa phải, nhưng tương lai chúng sẽ. Vì vậy mà Phật nói “Tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành (chúng sanh bao gồm luôn cả vi khuẩn)”

 

Tin Giờ Chót

 

Nhờ nhân duyên đưa đẩy, tôi quen biết được một người bạn đồng tu mới, qua một người quen giới thiệu. Chị pháp danh là Diệu Thanh ở San Francisco, ít đi chùa vì cuộc sống bận rộn. Chị chuyên tâm niệm phật đã nhiều năm và chị đã chứng được nhất tâm tam muội cách nay đã mấy năm, nhưng chính chị không biết là chị đã chứng được nhất tâm tam muội. Chị chỉ biết chị đã chứng được điều gì đó. Đến khi tôi hỏi chị vào chi tiết, thì ra chị đã chứng được tới không niệm giống như tôi, còn cao hơn nhiều, vì chị thấy được chuyện tiền kiếp của chị (thấy được tiền kiếp là sự thật).

Còn một chuyện lạ nữa là chị có mẹ già và một số anh chị em còn ở Việt Nam. Gia Đình chị, ai nấy cũng đều niệm Phật. Mẹ chị pháp danh là Diệu Nhan. Khoảng nửa năm nay, trong nhà mẹ chị thường phát ra một mùi thơm lạ từ bàn thờ rồi lan rộng ra khắp cả nhà (tới giờ vẫn còn, đây là mùi thơm của hoa sen ngàn cánh) Chị Diệu Thanh có một người em gái cũng ở chung với mẹ. Em chị pháp danh là Diệu Phượng, cô là giáo sư dạy đại học. Có một lần bàn tay trái của chị có mùi thơm lạ kéo dài đến 5 ngày, ai cũng tưởng là chị xức dầu thơm. Điều lạ là bàn tay cầm phấn viết thì không thơm, bàn tay chùi bảng thì lại thơm. Mới đây, chị dẫn con qua Úc thăm chồng. Trong lúc chị và con niệm phật, mùi thơm lại thoảng qua, không nhiều như ở Việt Nam (Tôi đã gọi qua Úc và được nói chuyện với chị Diệu Phượng).

Ngày đầu biết chị Diệu Thanh thì cũng là ngày chị thu xếp để về Việt Nam gấp. Vì cách đây 2 tháng, chị nằm mơ thấy chị mang hành trang dẫn mẹ chị đến sân bay đăng ký để đi về Tây Phương Cực Lạc. Sau giấc mơ đó, chị biết mẹ chị sắp được vãng sanh. Mới đây nghe mẹ chị bắt đầu yếu dần, chị vội thu xếp công chuyện, đi về Việt Nam gấp để giúp mẹ niệm Phật nhiều hơn, và chuyến đi này chị rất mong mỏi độ được ba chồng của chị nay đã ngoài 90 nhưng không chịu niệm Phật. Điều này làm cho chị lo lắng và rất buồn.

Vì thời gian có hạn, tôi không thể nào viết hết câu chuyện của chị Diệu Thanh và gia đình chị. Nhưng chị Diệu Thanh và chị Diệu Phượng đã hứa sau khi lo cho mẹ xong, hai chị sẽ viết hết câu chuyện để đưa ra đại chúng, hầu mong đại chúng thấy được những sự nhiệm mầu, mà tin Phật niệm Phật. Và câu chuyện này sẽ được bác Tịnh Hải thu thập, viết vào cuốn sách sắp ra của bác. Xin quý bạn hãy đón đọc những câu chuyện hy hữu này.

Kính thưa quý bạn, tôi biết quý bạn có rất nhiều người niệm Phật đã chứng được nhất tâm tam muội và thấy được nhiều sự nhiệm mầu của Phật pháp, tại vì chúng ta ngại nên không dám nói ra. Cũng như câu chuyện của chị Diệu Thanh và gia đình của chị. Khi nghe tôi khuyên nên đem câu chuyện chị và gia đình đưa ra đại chúng, hai chị nói: sợ người ta không tin và sẽ cho là khoe khoang, nói chuyện hoang đường, tự cao tự đại. Cũng vì những ý nghĩ này, mà chúng ta xưa nay không dám đưa bằng chứng nhiệm mầu của Phật pháp ra ngoài đại chúng. Chúng ta đâu có khoe bản thân chúng ta đâu mà chúng ta phải sợ. Chúng ta chỉ khoe Phật pháp cao siêu nhiệm mầu  mà thôi. Tại sao? Vì dù chúng ta có chứng được nhất tâm tam muội hay là cao hơn đi nữa, thì cũng không phải là chúng ta hay, mà là câu Phật hiệu A Di Đà hay và cao siêu nhiệm mầu. Chỉ cần chúng ta phát tâm niệm Phật, thì tất cả chúng ta đều hưởng được sự nhiệm mầu của Phật pháp. Vì vậy mà Phật nói: tất cà chúng sanh đều đồng một thể và tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành.

Vì đối đãi của thế gian nên tôi dùng chữ Khoe Khoang, thật ra đây không phải là khoe mà là nói nên sự thật. Nhưng khổ một điều là chúng ta nói thật, thì thiên hạ cho chúng ta là khoe khoang. Vì vậy mà chúng ta hãy can đảm đứng ra nhận chữ Khoe Khoang này.

 

Khoe Khoang

 

Khoe khoang mới xứng đại thừa

Khoe khoang mới độ được nhiều chúng sanh

Khoe khoang tâm giữ tịnh thanh

Khoe khoang như vậy mới là từ bi.

 

Hồi Hướng

 

Nguyện đem công đúc này

Hồi hướng cho tất cả chúng sanh

 Trong ba đường ác

Và những vong hồn vất vưởng đó đây,

Được thức tỉnh hồi đầu niệm Phật.

Để Phật đến nơi tiếp dẫn sanh về cõi Phật.

Nam Mô A Di Đà Phật. 

 

---o0o---